Hải Dương

Hải Dương
Code Tour: VN-0016
Tình trạng: Còn hàng
Giá: 0VNĐ

 

Hải Dương nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, phía bắc và tây bắc giáp Bắc Ninh và Bắc Giang, phía đông giáp Hải Phòng, Quảng Ninh, phía tây giáp Hưng Yên, phía nam giáp Thái Bình
Diện tích: 1.648,4 km²
Tỉnh lỵ: Thành phố Hải Dương.
Các huyện: Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn, Kim Thành, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Sán Dìu, Mường.
 
1) Thông tin chung 
Hải Dương nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, phía bắc và tây bắc giáp Bắc Ninh và Bắc Giang, phía đông giáp Hải Phòng, Quảng Ninh, phía tây giáp Hưng Yên, phía nam giáp Thái Bình. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4ºC.
Hải Dương có tiềm năng du lịch dồi dào. Là một miền đất trù phú có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, có di tích thắng cảnh Côn Sơn - Kiếp Bạc được nhiều người biết đến. Nhiều di tích lịch sử đã được nhà nước công nhận và xếp hạng.
Hải Dương là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Hải Dương là mảnh đất đã tạo nên những làng nghề truyền thống với những sản phẩm tinh xảo đã từng nổi tiếng từ nhiều thế kỷ. Hải Dương cũng chính là nơi có nền văn hoá dân gian đặc sắc của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng với các loại hình nghệ thuật: ca trù, hát chèo.
 
2) Lễ hội
  • Hội Côn Sơn
Thời gian: Hội thu: 16 - 20/8 âm lịch; Hội xuân: 18 - 22/1 âm lịch. 
Địa điểm: Xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. 
Đối tượng suy tôn: Nguyễn Trãi - nhà quân sự, chính trị thiên tài và là nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam thế kỷ 15, sư Huyền Quang, (một trong ba vị sáng lập thiền phái Trúc Lâm). 
Đặc điểm: Dâng hương, tưởng niệm, bàn cờ tiên, đấu vật, chơi cờ
Côn Sơn là một khu di tích lịch sử nổi tiếng của tỉnh Hải Dương, một trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm và cũng là nơi Nguyễn Trãi đã  về ở ẩn vào thế kỷ 15. Ở đó có chùa Côn Sơn, giếng Ngọc, bàn cờ tiên và đá Thạch Bàn. Chùa được xây từ đời Trần ở chân núi Côn Sơn, nơi tu luyện của trạng nguyên Lý Đạo Tái, pháp danh Huyền Quang, khi ông cáo quan về ở ẩn. Chùa có tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Trúc Lâm Tam tổ (Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Pháp Loa), tượng Trần Nguyên Đán và phu nhân. Hàng năm hội Côn Sơn mở 2 lần: hội xuân và hội thu luôn thu hút đông đảo dân địa phương và khách thập phương về dự hội tưởng niệm, tham quan di tích.
  • Hội đền Kiếp Bạc
Thời gian: 15-20/8 âm lịch.
Địa điểm: xã Hưng Ðạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Đối tượng suy tôn:Trần Quốc Tuấn
Đặc điểm: Lễ tế, rước kiệu Thánh.
Ðền Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Ðạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nơi thờ Trần Quốc Tuấn- vị tướng trụ cột của nhà Trần đã ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông, có công cứu nước, giải phóng dân tộc được nhân dân tôn thành "Thánh". Lễ hội đền Kiếp Bạc kéo dài từ 15/8 đến 20/8 âm lịch. 
Trảy hội Kiếp Bạc, tưởng nhớ Ðức Thánh Trần, từ nhiều thế kỷ qua, đã là tập quán của người Việt Nam. Ngày 20/8 âm lịch mới là chính hội nhưng một vài ngày trước đó khách thập phương đã nô nức kéo về, thuyền đậu chật bến sông. Lễ hội được tổ chức rất long trọng vào ngày 20/8 âm lịch. Sau lễ dâng hương là đại lễ với nghi thức tế uy nghiêm. Sau lễ tế là đến lễ rước. Bài vị Ðức Thánh Trần được rước trên Kiệu sơn son thiếp vàng, đi qua Tam Quan hướng tới bờ sông. Từ đây kiệu được rước lên thuyền rồng. Cuộc rước kéo dài khoảng 2 giờ, sau đó lại rước Ngài trở lại đền để làm lễ tạ - đồng thời kết thúc ngày hội lớn.  
Một trong những trò diễn hấp dẫn của lễ hội Kiếp Bạc là đua thuyền trên sông Lục Ðầu với hàng trăm chiếc thuyền lướt như tên bắn cùng trống thúc, chiêng dồn và tiếng hò reo dậy đất náo nức lòng người. Trảy hội Kiếp Bạc được sống lại không khí ra trận năm xưa của Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, mỗi người dân Việt Nam càng thấy tự hào hơn về lịch sử vẻ vang của dân tộc mình
 
3) Đến với Hải Dương
Thành phố Hải Dương cách Hà Nội 58km. Du khách có thể đến với Hải Dương bằng đường bộ hoặc đường sắt. Tỉnh nằm trên trục đường sắt và đường quốc lộ 5: Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng, trục đường quốc lộ 18: Bắc Ninh - Hải Dương - Quảng Ninh. 
 
4) Điểm tham quan
  • Đền Kiếp Bạc
Vị trí: Đền Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cách Hà Nội khoảng 80km, và cách Côn Sơn 5km. 
Đặc điểm: Vào thế kỷ 13 đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Đạo. 
Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc tạo cho Kiếp Bạc có một vẻ đẹp vừa kín đáo, vừa thơ mộng. Vào thế kỷ 13, đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Ðạo, người anh hùng dân tộc, người chỉ huy quân sự tối cao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.   
Ðền thờ Trần Hưng Đạo được dựng vào đầu thế kỷ 14, trên một khu đất ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc. Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: tượng Trần Hưng Ðạo, phu nhân, 2 con gái, Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Ðẩu và 4 bài vị thờ 4 con trai. Hàng năm, hội đền được tổ chức vào ngày mất của Trần Hưng Ðạo (ngày 20 tháng 8 âm lịch)
  • Khu di tích danh thắng Côn Sơn
Vị trí: Khu di tích danh thắng Côn Sơn thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cách Hà Nội khoảng 70km. 
Đặc điểm: Khu di tích này gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử; là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm vào thời Trần.
Khu di tích nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng - Kỳ Lân. Khu di tích, danh thắng này gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử. Ngay từ thời Trần, chùa Côn Sơn là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn - Yên Tử - Quỳnh Lâm). Mảnh đất này đã gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Trần Nguyên Ðán, Huyền Quang và đặc biệt là anh hùng dân tộc - danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi. Côn Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và đọc bia về Nguyễn Trãi. 
Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Tiêu biểu là:
 
Chùa Côn Sơn
Chùa có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự, hay còn gọi là chùa Hun, toạ lạc ở ngay dưới chân núi Côn Sơn, có từ trước thời Trần. Vào đời Lê, chùa được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ công gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, có những tượng Phật từ thời Lê cao 3m. Phía sau chùa là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông - Pháp Loa - Huyền Quang), tượng ông bà Trần Nguyên Ðán, hai pho tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.  
Sân chùa có cây đại 600 tuổi, 4 nhà bia, đặc biệt là bia "Thanh Hư động" tạo từ thời Long Khánh (1373 - 1377) với nét chữ của vua Trần Duệ Tông và bia hình lục lăng, "Côn Sơn thiện tư bi phúc tự" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc khi Người về thăm di tích này(15/2/1965).
 
Giếng Ngọc
Giếng nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, phía dưới chân Ðăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quí. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu. Từ đó có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa.
 
Bàn Cờ Tiên
Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn (cao 200m). Ðỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu đình, hai tầng cổ các tám mái. Ðứng từ đây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn.
 
Thạch Bàn
Bên suối Côn Sơn có một phiến đá gọi là Thạch Bàn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân nghỉ khi Người tới thăm di tích này. Từ chân núi đi theo lối mòn có kê đá xuống phía chân núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng và nhẵn nằm kề ven suối gọi là Thạch Bàn lớn. Tương truyền khi xưa Nguyễn Trãi lấy làm "chiếu thảm" nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước.
 
3) Đặc sản địa phương
  • Bánh Gai Ninh Giang 
Đi qua vùng Hải Dương,không thể không mua chục bánh về làm quà cho gia đình, hoặc đem biếu bè bạn thân tình, gọi là món quà quê dân dã nhưng không kém phần sang trọng - đó là món bánh gai Ninh Giang ngon nổi tiếng. 
Gọi là Ninh Giang nhưng không chỉ có huyện đó làm mà hầu như cả vùng Hải Dương. 
Lá cây gai để khô, khi dùng luộc kỹ cho nhừ rồi xay hoặc giã nhuyễn, trộn với bột nếp làm vỏ bánh. Nhân bánh là đỗ xanh thổi chín, ngào đường ngọt sắc, trộn thêm ít nhân lạc, miếng cùi dừa, có thể cả hạt sen trần. Trước khi gói, miếng bánh còn được điểm trang bằng ít hạt vừng trắng đã xát vỏ cho vừa thơm vừa không lạo xạo rồi hấp cho chín. 
Lá gói bánh gai không bao giờ là thứ lá gì khác ngoài một loại đặc biệt màu nâu già: lá chuối khô. Từng gánh lá vuông vức, phẳng phiu được đem đến nhà sản xuất, không khác nào giấy bản: giấy dó được đem đến làng Đông Hồ cho nghệ sĩ vẽ tranh, chỉ khác, đây là lá. Và người nghệ sĩ là người làm ra món bánh gai ngon nổi tiếng. 
Ăn bánh gai, không thể bóc tuột lá như bánh giò, bánh chưng, hay bóc hết giấy như bánh kho, bánh đậu. Phải bóc từ từ, tước mảnh lá chuối khô gói bánh ra từng ít một, chỉ để lại một ít phần dưới miếng bánh làm chỗ lót cho tay cầm. 
 
Cách gói mấy chiếc bánh gai vào nhau cũng khá đặc biệt. Không hiểu từ bao giờ, mà đến nay cách gói đó không hề thay đổi. Cứ năm chiếc một, bốn cái bánh dựng đứng, chèn một cái nữa vào bên trong, thành một chiếc khung vuông vức, thật chặt đi đường xa cũng không rời ra được. 
Món bánh gai cũng dễ làm, nhiều nơi đã sản xuất được. Nhưng chỉ có bánh gai Ninh Giang (Hải Dương) mới là món quà ngon đặc sắc vùng đồng bằng mang một nét đẹp truyền thống từ xa xưa để lại. 
  • Bánh đậu Hải Dương 
Chắc nhiều bạn đọc còn nhớ cái thứ bánh đậu Hải Dương, đã nổi tiếng, mà ngày bé, chúng ta thường nhận được do tay bà mẹ đã đi đâu một chuyến xa về? Cái thứ bánh đậu khô, bột nhỏ như phấn, đóng hình vuông, có in dấu một hai chữ triện. Thuở nhỏ, chúng ta thích ăn thức quà ấy lắm, nhưng nếu chúng ta mắc bệnh ho, thì không khỏi lắm lúc bực mình. Miếng bánh vừa bỏ mồm chưa kịp nuốt, một cơn ho đã làm bật ra ngoài như làn khói ... Mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn. 
Bây giờ là thứ bánh đậu Hải Dương ấy không còn nữa. Có lẽ người ta thấy cái bất tiện của bột khô cho các trẻ bé và cho các ông cụ già. Ở Hà Nội, người ta làm một thứ bánh đậu ngon hơn, đó là một thứ bánh đậu ướt, thứ bánh đậu có mỡ. Một thứ bánh để ăn trong khi uống chè tàu, cái vị béo ngọt của bánh rất ăn với cái vị đắng của nước chè. 
Đó là thức bánh rất hợp dùng trong lúc thưởng thức ấm chè ngon và tôi lấy làm tiếc rằng sao người ta lại không nghĩ chế ra một vài thứ bánh tương tự như thế nữa; để có đủ bánh mà đặt ra cái lệ "chè bánh" vào quãng năm giờ chiều, như thói tục người Anh. Một tục lệ đáng quý, khiến một ngày đầy đủ hơn, và sau cùng sự là bánh trái cũng khéo léo và tinh khiết hơn. Cũng là một công việc đáng làm, như sự khuyến khích các mỹ thuật khác trong nước. Bánh đậu ướt ngon nhất là bánh đậu của Hàng Bạc và Hàng Gai. Bây giờ hai phố vẫn cạnh tranh nhau để lấy tiếng, và thêm vào cuộc tranh giành, còn có phố Hàng Đào và phố Hàng Đường nữa. Nào hiệu Ích Nguyên Hàng Gai, hiệu Giu Nguyên và Thanh Hiên Hàng Đường, ... Mỗi hiệu đều trình bày một thứ bánh với một hương vị riêng. Ai chiếm giải quán quân bánh đậu? Thật là khó giải quyết. Tôi lần lượt dùng hết chừng ấy thứ, đã ngẫm nghĩ và suy xét nhiều về cái vị ngon trước một chén chè tà̀u bốc khói. Tôi không có cái kiêu vọng bắt buộc người khác phải theo cái quyết định của mình. Nhưng tôi không khỏi cái sở thích riêng trong việc đó. 
 
Bánh đậu của Ích Nguyên thì thẳng thắn và thực thà, mịn vì đậu ngon nguyên chất. Bánh của Thanh Quang nhiều hương thơm vani, nhưng đường dùng hay loạn soạn, của Giu Nguyên thì ướt vì nhiều mỡ quá; của Cự Hương thì nhạt vị, của Việt Hương thì dẻo quá; tựa như đậu trắng, của Ngọc Anh thì hơi khô khan, của Thanh Hiên thì hơi cứng mình ... Kể về vị ngon, thì mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng, đủ để cho người ta chuộng. Nhưng tôi thì ưa thích thứ bánh đậu của Hàng Gai hơn, vì giản dị và mộc mạc. Đậu thì nguyên chất đậu, và hương thơm cũng chỉ là hương riêng của bột đậu xanh. Cho nên bỏ vào mồm thì tan đều, ăn ngẫm nghĩ rồi mới thấy béo, suy xét rồi mới thấy thơm. Cái ông cụ già làm bánh ở hiệu đó có nói chuyện rằng: trước kia, vì theo thời, ông cũng cho thêm hương vani vào bánh. Nhưng các khách hàng quen, trong số đó có vài ông khách hàng già ở ngoại ô, đều yêu cầu nên giữ nguyên hương vị đậu xanh như xưa, và nhà hàng từ đó cứ theo như thế. Đấy thật là một ý kiến hay.

Viết phản hồi

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: