Kontum

Kontum
Code Tour: VN-0007
Tình trạng: Còn hàng
Giá: 0VNĐ

Kon Tum là tỉnh ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên. Kon Tum có chiều dài biên giới 275km, tiếp giáp với hạ Lào và bắc Căm-pu-chia về phía tây, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Gia Lai.

Diện tích: 9.614,5 km²
Tỉnh lỵ: Thị xã Kon Tum.
Các huyện: Đắk Glei, Ngọc Hồi, Đắk Tô, Kon Rẫy, Kon Plông, Đắk Hà, Tu Mơ Rông, Sa Thầy.
Dân tộc: Việt (Kinh), Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Ra Glai... 
 
1) Thông tin chung 
Kon Tum là tỉnh ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên. Kon Tum có chiều dài biên giới 275km, tiếp giáp với hạ Lào và bắc Căm-pu-chia về phía tây, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Gia Lai.
Kon Tum có khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23,4ºC. Du khách đến Kon Tum sẽ có dịp đi thăm nhiều cảnh đẹp của vùng núi rừng Tây Nguyên. Kon Tum có một nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Cuộc sống buôn làng của đồng bào các dân tộc với những phong tục tập quán riêng biệt, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: lễ hội cồng chiêng, lễ đâm trâu, bỏ mả, mừng lúa mới...
Kon Tum có một số chùa chiền, chủng viện, nhà thờ gỗ, được xây dựng từ lâu đời bên cạnh nhà rông truyền thống có lối kiến trúc độc đáo... Đến đây du khách sẽ thấy được sự hấp dẫn của một nền văn hóa Tây Nguyên, của các cảnh quan kỳ thú.
 
2) Lễ hội
Tục mừng lúa mới của đồng bào Ba na 
Khi những hạt lúa trên nương bắt đầu ngậm sữa, cũng là lúc đồng bào Ba na tại các buôn làng cùng nhau chuẩn bị cúng mừng lúa mới tạ ơn "Giàng".
Ngày trước, bà con làm lúa rẫy mỗi năm 1 vụ, lúa được trỉa vào tháng 4 và thu hoạch vào tháng 10 Âm lịch hằng năm, khi thấy màu vàng của lúa được phơi giữa lưng đồi, mỗi nhà chuẩn bị 1 con gà, giã một khay cốm, có người đi rừng kiếm thêm con sóc, con nhím… chuẩn bị sẵn vài ghè rượu. Luộc con gà xong đặt lên đĩa, bên cạnh là ghè rượu và khay cốm, người đàn ông lớn tuổi nhất trong nhà bắt đầu khấn cầu được những gié lúa trĩu bông, con cháu khỏe mạnh, gia đình vui vẻ, mời linh hồn của những người đã khuất về cùng dự. Cúng xong người lớn tuổi được ăn phép và uống rượu đầu tiên, sau đó cả nhà cùng vui, họ chuyền nhau mỗi người một nắm cốm để tận hưởng hương vị thơm ngon của những hạt thóc đầu mùa, cứ thế mọi người cùng ăn, cùng uống, cùng say…
 
Hôm sau, khi ông mặt trời vừa nhô khỏi núi, mọi người lũ lượt kéo nhau lên rẫy, họ mang theo gùi để tuốt lúa. Khi lúa đã về nhà, cả làng bắt đầu cúng tập thể tại nhà rông, mỗi gia đình góp 1 con gà, 1 ghè rượu và 1 khay cốm. Tất cả được bày dọc theo 2 hàng của nhà rông. Chuẩn bị xong, mỗi nhà cử một đại diện ngồi vào mâm lễ của mình, đám trai làng đi chung quanh nổi cồng chiêng, già làng cầu mong cho sự bình yên, ấm no chung của cả làng, từng gia đình có điều ước riêng cho mình. Già làng được ăn phép và uống rượu trước tiên. Tiếng cười nói, đùa vui của người già, lũ trẻ hòa vào nhau, một không khí đầm ấm, nhộn nhịp. Cuộc vui thường kéo dài thâu đêm, đến khi con gà rừng gáy báo sáng vẫn còn nghe tiếng cồng chiêng.
Ngày nay cây lúa nước đã được thay thế dần cho cây lúa nương, mỗi năm thu hoạch từ 2 đến 3 vụ, song tục mừng lúa mới bà con vẫn tiếp tục lưu giữ sau mỗi mùa lúa bội thu.
 
3) Đến với Kon Tum
Thị xã Kon Tum cách TP. Buôn Ma Thuột 246km, cách Quy Nhơn 215km và cách Pleiku 49km. Đường quốc lộ 14 chạy dài từ tây Quảng Nam qua thị xã Kon Tum đi xuống Gia Lai - Đắk Lắk – Tp. Hồ Chí Minh; quốc lộ 24 nối Kon Tum với Quảng Ngãi.
 
4) Điểm tham quan
  • Làng Ba Na
Vị trí: Ở Tây Nguyên thuộc tỉnh Kon Tum. 
Đặc điểm: Làng Ba Na là những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu.
Dân tộc Ba Na là một trong ba dân tộc bản địa đông người nhất ở Tây Nguyên, họ sống nhiều nhất ở tỉnh Kon Tum.  Ba Na Kon Tum là tên cộng đồng người Ba Na tập trung ở thị xã Kon Tum. Theo tiếng Ba Na thì Kon nghĩa là làng, Tum nghĩa là hồ, ao. Kon Tum là làng có nhiều ao, hồ. 
Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết dùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu bò để cày ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày. Trước đây người Ba Na có truyền thống săn bắn giỏi, tới gia đình nào bạn cũng có thể nhìn thấy có vài cái nỏ bằng gỗ rất chắc.
Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than. Bếp cũng là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình.
Ðàn ông Ba Na thường có vết sẹo ở ngực. Ðó là vết tích do họ tự gây nên bằng cách lấy lửa hoặc than hồng dí vào ngực khi trong nhà có người chết, để tỏ lòng thương tiếc người quá cố.
  • Nhà rông Tây Nguyên
Vị trí: Nhà rông Tây Nguyên chỉ có ở những buôn làng bắc Tây Nguyên, đặc biệt ở Kon Tum.
Đặc điểm: Mỗi buôn, làng dựng một ngôi nhà sàn lớn được trang trí đẹp ở giữa buôn, làng gọi là nhà rông. Nhà rông là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng: lễ tết, hội làng, đám cưới, lễ cầu nguyện và là nơi hội họp của cả buôn làng già, trẻ, trai, gái... 
Nhà rông của mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong kiến trúc, tạo dáng, trang trí hoa văn. Nhưng nhìn chung nhà rông vẫn là ngôi nhà to nhất, thường gấp ba, gấp bốn nhà thường, có mái nhọn xuôi dốc và được dựng trên những cột cây to, thường là tám cột bằng cây đại thụ, thẳng, chắc; mái nhọn lợp bằng lá gianh, phơi kỹ cho đến khi vàng óng. Trên những vì kèo được trang trí những hoa văn có màu sắc rực rỡ mang tính tôn giáo thờ phụng, những sự tích huyền thoại của dũng sĩ thuở xưa, những thú vật được cách điệu, những vật, những cảnh sinh hoạt gần gũi với cuộc sống buôn làng. Nổi bật trong trang trí nhà rông là hình ảnh thần mặt trời chói sáng. 
Nhà rông càng to đẹp thì càng chứng tỏ buôn làng giàu có, mạnh mẽ.
  • Nhà mồ Tây Nguyên
Vị trí: Nhà mồ Tây Nguyên có ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên. 
Đặc điểm: Nhà mồ Tây Nguyên được xây cất theo phong tục tang lễ ở vùng Tây Nguyên, lúc đầu là chòi nhỏ sơ sài, sau đó một hoặc vài ba năm thân nhân gia đình người chết dựng lại nhà mồ mới khang trang, trang trí nhiều tượng gỗ. 
Theo phong tục tang lễ của một số tộc người ở vùng Tây Nguyên, sau khi chôn người chết, người ta làm một chòi nhỏ sơ sài trên nấm mộ để che mưa che nắng cho người chết. Trong chòi thường đặt một số đồ dùng của người đã khuất. 
Sau đó một hoặc vài ba năm, thân nhân gia đình người chết phá nhà mồ cũ, dựng nhà mồ mới khang trang hơn, kiên cố hơn, trang trí tượng gỗ, có hàng rào xung quanh nhà mồ.
Tục phá chòi, dựng nhà mồ mới của một số tộc người ở Tây Nguyên thường được tổ chức vào mùa xuân (mùa khô) và được coi như một lễ hội lớn (lễ bỏ mả) của dân bản. Người ta đưa đến nghĩa địa rượu, thịt, cá, các vật cúng tế. Thân nhân người quá cố và dân bản cùng vui mừng, ăn uống, nhảy múa trong một hay nhiều ngày bên nhà mồ để chia biệt vĩnh viễn người quá cố. 
Tục bỏ nhà mồ theo quan niệm sau sự kiện này thì người sống hết trách nhiệm trông nom, thờ cúng cho người quá cố và được giải thoát mọi giàng buộc, nếu còn trẻ có thể lấy vợ (hoặc chồng) khác; còn người quá cố sẽ được đầu thai sang kiếp khác…
 

du lịch việt đông á

Viết phản hồi

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: