THÁI BÌNH

THÁI BÌNH
Code Tour: VN-0019
Tình trạng: Còn hàng
Giá: 0VNĐ

Thái Bình là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, là một trong những vựa lúa của miền Bắc. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Hải Dương và Hải Phòng, phía đông giáp biển Đông, phía tây và tây bắc giáp Hà Nam và Hưng Yên, phía nam giáp Nam Định.

Diện tích: 1.545,4 km²
Tỉnh lỵ: Thành phố Thái Bình
Các huyện: Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ, Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải.
Dân tộc: Việt (Kinh), Thái, Ngái, Tày, Ra Glai.

1) Thông tin chung:
Thái Bình là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, là một trong những vựa lúa của miền Bắc. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Hải Dương và Hải Phòng, phía đông giáp biển Đông, phía tây và tây bắc giáp Hà Nam và Hưng Yên, phía nam giáp Nam Định.

Thái Bình không có rừng núi, bốn phía là sông biển bao quanh (một mặt là biển, ba mặt là sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa). Tỉnh có bờ biển dài 53km và có cảng biển Diêm Điền.  Thái Bình chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23ºC- 24ºC. Mùa đông thường ấm hơn so với các tỉnh nằm sâu trong đất liền. Mùa hè nóng nhưng có gió biển mát mẻ.

Ðến với Thái Bình, là đến với các công trình văn hóa lịch sử và sinh hoạt văn hoá dân gian. Các hình thức sinh hoạt văn hóa ở Thái Bình hết sức phong phú với 16 thể loại hát, múa, đặc trưng như múa rối nước Nguyên Xá, chèo làng Khuốc, kéo chữ Phụng công, múa bát dập, hát ống Lộng Khê, hát trẽ khói Cốc mỏ... nhiều trò chơi độc đáo: Thi pháo đất, bắt cá, bắt trạch, bắt vịt, nấu cơm, dệt chiếu, rước ông Ðùng - bà Ðà, chọi trâu, chọi gà... Đó chính là tiềm năng du lịch của tỉnh.

2) Lễ hội:
•    Lễ hội chùa Keo

Trên khúc sông Hồng uốn lượn, kèn trống vang trời, hàng chục chiếc thuyền chải với mấy chục tay chèo đua nhau lướt sóng, hàng nghìn người xem đứng kín hai bên bờ đê.
Dù cha dù mẹ đánh treo
Em không bỏ được chùa Keo đêm rằm
Cô gái chung thủy với văn hóa dân tộc này, khi hát đã phải nói rõ là "hội Keo ngày rằm" bởi vì ở nước ta có tới bốn năm chùa có tên là Keo và cô bé muốn nói tới dịp lễ hội to và đông vui nhất là hội chùa Keo làng Hành, nay là Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường.
Trên khúc sông Hồng uốn lượn, kèn trống vang trời, hàng chục chiếc thuyền chải với mấy chục tay chèo đua nhau lướt sóng, hàng nghìn người xem đứng kín hai bên bờ đê. Còn khắp trên những khoảng ruộng mới gặt người ta nô nức với các cuộc tế, rước thuyền, các trò thi bắt ếch, tung lưới, thổi cơm... Gác chuông chùa cao vút nổi bật giữa tám lá cờ đại phần phật bay.
Tất cả các nghi lễ và trò hội này đều có ý diễn tả lại đời sống chài lưới lúc thiếu thời của Thiền sư Không Lộ. Nhà sư đã cho xây chùa để hoằng hóa Phật pháp, dân gian gọi nôm na là chùa Keo. Sau này Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tôn ông là sư tổ.
Lễ hội diễn ra suốt ba ngày đêm nhưng dân làng ở đây đã chuẩn bị và tiến hành từ một trăm ngày trước với một lòng thành kính và tự giác cao độ. Rất nhiều các nghi thức phức tạp như rửa chùa, tắm và thay áo cho tượng của nhà sư với sự tham gia của hàng trăm người, cho đến các cuộc tế rước suốt cả buổi mà hầu như không thấy ai chỉ huy. Buổi tối, rất nhiều người từ xa đến vào làng ăn cơm và ngủ trong các nhà dân, đầm ấm như thân quen. Ngày hội lại là ngày trăng tròn, thanh niên nam nữ kéo nhau lên đê trò chuyện, bàn tán, chuẩn bị cho ngày hội hôm sau rồi quay ra hát đối thâu đêm.
Hiếm có lễ hội nào mà tinh thần Phật giáo lại hòa quyện với tập tục dân gian như ở đây. Hàng năm tại chùa có hai lần mở hội, hội Xuân vào Tết Nguyên đán và hội Thu vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch để kỷ niệm ngày sinh của thánh Không Lộ.

3) Đến với Thái Bình:
Thành phố Thái Bình cách Hà Nội khoảng 110km, cách thành phố Hải Phòng 70km và cách thành phố Nam Ðịnh 18km. Hệ thống cầu được xây dựng trên tất cả các tuyến đường chính gồm cầu Tân Ðệ, cầu Thái Bình, cầu Triều Dương.
4) Điểm tham quan
•    Chùa Keo
Vị trí: Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Đặc điểm: Chùa là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Việt Nam. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo.

Từ thành phố Nam Định, qua cầu Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng, đi khoảng 10km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng, chùa Keo với gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn. Theo sách Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục, chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được Không Lộ xây dựng từ năm 1067 tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Thái Bình. Việc dựng chùa mới được bắt đầu từ năm 1630, hoàn thành năm 1632, chùa được dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ 17, 18 và năm 1941.
 
Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m². Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý.

Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là gác chuông. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cầu bằng những con sơn chồng lên nhau. Tầng một có treo một khánh đá dài 1,20m, tầng hai có quả chuông đồng cao 1,30m đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông năm 1686, tầng ba và tầng thượng treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69m đúc năm 1796.

Đến thăm chùa, du khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.
Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


5) Đặc sản địa phương
    Gỏi nhệch Thái Thụy
Ở vùng quê ven biển Thái Bình, ngoài món hải sản nổi tiếng là cá khoai thì còn có món gỏi nhệch. Con nhệch có màu sắc và hình dáng tựa như lươn nước ngọt, chỉ có điều dài hơn một chút. Nhệch càng nhỏ thì làm gỏi càng ngon vì xương mềm, thịt mịn và ngọt.

Trước hết làm sạch nhớt nhệch bằng tro và lá nhái, sau đó mổ bụng vứt ruột đi, bỏ đầu đuôi, chỉ dùng thân. Thân nhệch được cắt ra nhiều đoạn: mỗi đoạn dài từ 2 đến 3 cm. Mỗi đoạn lại được cắt ra làm nhiều khúc nhỏ nhưng không đứt hẳn, sau đó lấy khăn sạch thấm nước và cho vào bát ô tô, rắc bột ngọt, ớt khô, giềng giã nhỏ, thính gạo nếp… chờ cho "dậy mùi" là được.
Nước dùng chỉ bao gồm hai vị chua ngọt. Vị chua được lấy từ quả chay (hay cà chua) luộc lên mà thành. Vị ngọt được tạo nên từ đường. Khi dùng món gỏi nhệch bắt buộc phải có các loại rau như lá chanh, lá sung, rau húng, tía tô… Sự góp mặt của các loại lá dường như tạo cho miếng thịt thơm ngon và bùi hơn, cùng với sự giòn tan của xương, vị chua, ngọt của đường và quả chay… tạo ra món gỏi, uống với rượu thì tuyệt biết bao.

Du Lịch Việt Đông Á

Viết phản hồi

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: