Cao Bằng

Cao Bằng
Code Tour: VN-0003
Tình trạng: Còn hàng
Giá: 0VNĐ

 

Cao Bằng là một tỉnh miền núi ở phía bắc Bắc bộ. Phía bắc và phía đông Cao Bằng giáp Trung Quốc, phía tây giáp Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế.

Diện tích: 6.690,7 km²

Tỉnh lỵ: Thị xã Cao Bằng.

Các huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Hoà An, Phục Hoà, Quảng Uyên, Hạ Lang, Thạch An.

Dân tộc: Tày, Nùng, Dao, H'Mông, Việt (Kinh), Sán Chay...

1) Thông tin chung

Cao Bằng là một tỉnh miền núi ở phía bắc Bắc bộ. Phía bắc và phía đông Cao Bằng giáp Trung Quốc, phía tây giáp Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế.

Cao Bằng có khí hậu ôn đới. Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 25ºC – 28ºC, mùa đông là 16ºC – 17ºC. Một số vùng núi cao như Trùng Khánh, Trà Lĩnh về mùa đông có tuyết rơi. Khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại có nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho nghỉ ngơi, du lịch

Lễ hội truyền thống của tỉnh Cao Bằng là nét đặc trưng của các dân tộc sinh sống trong vùng đặc biệt là lễ hội Lồng Tồng. Tỉnh cũng có nhiều di tích thắng cảnh như di tích Bắc Bó, khu di tích Kim Đồng, hồ trên núi Thang Hen, thác Bản Giốc (huyện Trùng Khánh) là một thác nước vào loại đẹp nhất ở Việt Nam...

2) Lễ hội              

3) Đến với Cao Bằng

Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272km. Tỉnh có quốc lộ 4B đi Lạng Sơn, quốc lộ 3 đi Bắc Kạn, Trung Quốc, quốc lộ 34 đi Hà Giang.

4) Điểm tham quan

  • Di tích Pắc Bó

Vị trí: Di tích Pắc Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, cách Tx. Cao Bằng 55km về phía bắc.

Đặc điểm: Pắc Bó là di tích cách mạng nổi tiếng, nơi Bác Hồ làm việc và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Các di tích ở khu này gồm có:

- Hang Bo Bam, bãi Cò Rạc, Hang Cốc Bó

- Suối Lê-nin, núi Các Mác.

- Suối Nậm: Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp huấn luyện cán bộ và tổ chức nhiều cuộc họp quan trọng của Trung ương. 

Ði trên những tảng đá nhám rêu phong dọc bờ suối là nơi Bác Hồ thường ngồi làm việc và câu cá sẽ đến một chiếc cầu gỗ bắc ngang cửa khe Cốc Bó. Ðây là nơi khởi nguồn của suối Lê-nin. Hang Pắc Bó hiện ra bên sườn núi đá lởm chởm. Ðứng ngoài cửa hang nhìn xuống, trên vách đá tranh tối tranh sáng còn thấy được dòng chữ của Người: "Ngày 8 tháng 2 năm 1941". Ðấy là ngày Bác đến ở hang này, một cái hang nhỏ, ẩm và lạnh, nằm sâu trong khe núi, chẳng mấy ai để ý tới.

Thăm khu di tích lịch sử này, du khách hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để rồi trong ký ức họ sống mãi những vần thơ lạc quan cách mạng của Người:

"Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Ðảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang".

  • Thác Bản Giốc

Vị trí: Thác Bản Giốc thuộc địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Đặc điểm: Bản Giốc là một thác nước cao hùng vĩ và đẹp nhất của Việt Nam, không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là nguồn thủy điện lớn trong tương lai. 

Ngay từ xa du khách đã nghe thấy tiếng thác nước réo ào ào. Từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi. Giữa thác có một mô đá rộng phủ đầy cây đã xẻ dòng sông thành 3 luồng nước như ba dải lụa trắng. Ngày đêm thác nước cuồn cuộn đổ xuống những tảng đá phẳng làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn. Vào những ngày nắng, làn hơi nước còn tạo thành cầu vồng lung linh huyền ảo.

Dưới chân thác Bản Giốc là mặt sông rộng, phẳng như gương. Hai bên bờ là những thảm cỏ, vạt rừng xanh ngắt, lác đác điểm những chùm hoa phong lan, những đàn trâu, bò ung dung gặm cỏ làm cho cảnh sắc càng thêm sinh động. Ðộng Ngườm Ngao ở ngay bên cạnh thác, dài khoảng 3km được đánh giá là một trong những hang động đẹp của Việt Nam.

Thác Bản Giốc được xem là một trong những tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng. Đó là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp vào bậc nhất của Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89km theo tỉnh lộ 206 về phía Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 26km. Sau dòng thác là dòng sông Quây Sơn dòng nước trong xanh. Bờ sông với cảnh quan đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh. Bên kia sông là nước láng giềng Trung Quốc. Với độ cao 53m, rộng 300m, thác có 3 tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau. Những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi, tạo thành một màn bụi nước trắng xóa. Ngay từ xa, du khách đã có thể nghe thấy tiếng ầm ào của thác vang động cả một vùng rộng lớn. Giữa thác có một mô đá rộng phủ đầy cây đã xẻ dòng sông thành ba luồng nước như ba dải lụa trắng. Vào những ngày hè nắng nóng, không khí ở đây vẫn mát lạnh, mỗi buổi sáng khi ánh mặt trời chiếu qua làn hơi nước tạo thành dải cầu vồng lung linh huyền ảo. Thác Bản Giốc với những vẻ đẹp, ưu thế riêng. Thác Bản Giốc đang được tỉnh đầu tư phục vụ du khách đến với Thác Bản Giốc; nơi đây ngày càng thu hút nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.

  • Hồ Thang Hen

Vị trí: Hồ Thang Hen thuộc địa phận xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng.

Đặc điểm: Đây là một hồ đẹp trong số 36 hồ nằm ở trên núi của nước ta, độ cao so với mặt biển hàng nghìn mét. 

Hồ Thang Hen ở giữa một vùng núi non và màu xanh của cây vươn mình trên các vách đá cheo leo soi bóng xuống mặt nước trong, uốn lượn theo lòng lũng mấp mô những mỏ đá ngầm. 

Hồ Thang Hen có hình thoi chiều rộng chừng 100m, chiều dài 500m, giữa rừng trám trắng, trám đen nhô lên những khối đá tai mèo. Phía đầu nguồn là một cái hang rộng, từ trong hang nguồn nước chảy ra suốt ngày đêm. Đặc biệt nước hồ Thang Hen hàng ngày lại có hai đợt “thủy triều” lên và xuống. Vào mùa lũ trong khi các hồ khác nước đỏ lựng thì nước hồ Thang Hen vẫn luôn trong xanh. Mùa cạn nước sâu chừng 10m.

Gần hồ Thang Hen còn có hồ Thăng Luông, giữa hồ nhô lên một quả núi phong cảnh rất ngoạn mục.

 

5) Đặc sản địa phương 

  • Hạt dẻ và Mác mật Trùng Khánh

 Nhắc đến các món đặc sản của tỉnh Cao Bằng - địa đầu Tổ quốc, nhiều người nghĩ ngay đến hạt dẻ Trùng Khánh (được gọi là mác lịch), một món ăn ngon, không chỉ với người nước ngoài. Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, khí hậu á nhiệt đới nơi núi đá của Cao Bằng còn thích hợp cho một loại cây ăn quả có hương vị đặc biệt nữa là mác mật. Nhiều năm qua, những thứ quả này chỉ được dùng để ăn chơi khi vào mùa chín.

Cách đây hơn 100 năm, người Pháp đã đem giống hạt dẻ Bắc Âu sang trồng tại Cao Bằng. Hiện nay, trên khắp Tỉnh, đâu đâu cũng có cây dẻ. Tuy nhiên, loại dẻ cho hạt ngon nhất là dẻ được trồng tại huyện biên giới Trùng Khánh. Hạt dẻ ở đây rất to, có vỏ lụa rất mỏng, có thể bóc được, hạt có màu vàng đượm, bùi và thơm ngậy. Nhiều người nước ngoài, nhất là người Bắc Âu khi được thưởng thức hạt dẻ Trùng Khánh đều nhận xét: Hạt dẻ ở đây ngon hơn hạt dẻ ở nước họ, bởi có hàm lượng prôtêin cao, màu sắc và mùi thơm cũng quyến rũ hơn. Tuy nhiên, hạt dẻ Trùng Khánh rất khó bảo quản. Sau khi hái xuống khỏi cây vài ngày, nếu không được sơ chế và bảo quản cẩn thận, thì vài ngày sau đã ủng nát và xuống màu, mất hết hương vị, màu sắc vốn có.

Khác với hạt dẻ, Mác mật là loại cây thuộc họ hồng bì, sản phẩm thu hoạch chính là quả và hạt. Quả và hạt có đặc trưng thơm, ngọt đậm đà. Cây mác mật chỉ có ở Cao Bằng và vùng Lạng Sơn giáp Cao Bằng, cây cao chừng 3-5 m, lá và quả có tinh dầu thơm, cùi có vị chua ngọt. Vào đầu hè, mác mật chín vàng, mọng, trong với hương thơm phảng phất. Người Trung Quốc và người dân vùng miền núi Phía Bắc đã sử dụng nguyên liệu mác mật làm phụ gia để chế biến các món ăn truyền thống như vịt quay, lợn quay, thịt kho tầu, chân giò ninh, kho. Tất cả các bộ phận của cây mác mật gồm thân, rễ, lá, cành cho đến quả đều dùng được... Món ăn chỉ cần có chút mác mật là mùi thơm đã lan tỏa khắp phòng. Điều đặc biệt là cây mác mật đã được người Cao Bằng làm ăn xa quê trồng ở nhiều nơi như Đắc Lắc, Lâm Đồng... nhưng cây không bao giờ ra quả, dù cành lá rất tươi tốt, sum suê. Để thưởng thức nó, mời bạn hãy đến Cao Bằng.

  • Chè đắng Cao Bằng - Nét mới của văn hoá trà Việt

Chè đắng, tiếng dân tộc gọi là Ché Khôm, là cây đặc sản quý hiếm có giá trị của tỉnh Cao Bằng.  Đã hơn 2000 năm, tinh hoa của đất trời được kết tinh trong lá chè đắng Cao Bằng. Cây chè đắng  sinh trưởng và phát triển tự nhiên trong những cánh rừng trên đất Cao Bằng. Cây trưởng thành có thể cao tới 30m, đường kính có cây tới trên 1m. Các nhà khoa học cho biết, trong lá chè đắng tươi có chứa 16 loại axít amin có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất và có quan hệ chặt chẽ đến cơ cấu dinh dưỡng của cơ thể. Ngoài việc dùng như uống như trà, thì chè đắng còn có giá trị về mặt dược liệu, dùng để chữa cảm nắng, tiêu viêm, giải độc, giải rượu, kích thích tiêu hóa, điều hoà huyết áp, kháng suy lão...Từ xa xưa, người Trung Quốc đã dùng chè đắng để tiến vua.

Khách lên Cao Bằng hôm nay đã không thể quên mua vài hộp chè đắng về biếu người thân. Người dân Cao Bằng hôm nay đã có thể tự hào về những hộp chè màu đỏ tím đặc trưng của cây chè đắng Cao Bằng. Chè đắng đã và đang đi dần vào từng cửa hàng, ngõ chợ, đi vào tiềm thức của từng gia đình, từng người dân trong và ngoài nước. Với những ai đã từng thưởng thức ly chè đắng có lẽ sẽ không bao giờ quên được một hương vị đắng đậm ngọt độc đáo của loại chè đặc sản của quê hương Cao Bằng. 

  • Bánh Coóng Phù

Bánh coóng phù của người Tày được làm từ bột nếp có pha một tỷ lệ bột tẻ. Vào ngày đông chí, nhà nào ở Cao Bằng cũng làm bánh này để cúng tổ tiên. Vào những đêm đông giá lạnh ở Cao Bằng, bạn có thể tạt vào quán ven đường, góc phố nào đó để nhấm nháp bát coóng phù. Vị ngọt của đường phèn, vị cay ấm và thơm của gừng, vị bùi của lạc và hương thơm của gạo trắng Cao Bằng sẽ làm tan biến cái giá lạnh, sưởi ấm lòng người.

  • Bánh áp chao

Là món ăn quen thuộc của người dân Cao Bằng vào mùa đông giá lạnh. Loại bánh này được làm từ bột nếp, nhân được làm bằng thịt vịt hoặc thịt phi hành, tất cả được cho vào khuôn thả xuống chảo mỡ đang sôi trong chốc lát bánh sẽ chín vàng. Bánh thường được ăn kèm với nộm đu đủ, rau húng, rau diếp, mùi tàu….             

  •  Lợn sữa quay Cao Bằng

Đây là món ăn đã đạt đã đạt huy chương vàng tại Hội thi “Chế biến các món ăn dân tộc” do Tổng cục Du lịch tổ chức năm 2002 tại Hà Nội. Người dân Cao Bằng thường chọn loại lợn giống địa phương nặng 4-6 kg để quay. Sau khi sơ chế xong, dùng giấy bản thấm khô mình con lợn bởi nếu rửa bằng

nước thịt sẽ nhão, không săn và mất hết vị ngon. Sau đó, nhồi lá mác mật cùng các gia vị khác vào bụng con lợn rồi khâu lại, dùng cây tre xuyên từ mõm tới đuôi rồi quay

trên bếp than hồng, vừa quay vừa dùng mật ong và các loại gia vị phết lên mình con lợn để cho giòn bì và khỏi nứt. Muốn xem thịt đã chín chưa, dùng que sắt nhỏ châm vào thịt, thấy rỉ ra nước màu sẫm là được. Mùi thơm toả ra nghi ngút, thịt quay ngon là thịt vừa chín tới, bì vàng rộm, giòn tan. Thịt lợn quay được dùng với nước chấm được pha chế riêng.

  • Phở chua

Là món ăn được chế biến khá cầu kỳ, phản ánh nghệ thuật ẩm thực của người dân Cao Bằng. Một nhúm phở đã được làm se lại vừa dẻo, vừa dai dàn đều trong bát, bên trên là những lát gan, lạp sườn được rán cháy cạnh thêm nữa là  vài lát thịt ba chỉ, dạ dày lợn đã được rán vàng cùng những miếng thịt vịt quay vàng rộm, trên được điểm mấy ngọn rau thơm, chút lạc ràn đập dập, miến, khoai tầu thái chỉ chao giòn. Sau đó, rưới lên trên một chút nước sốt được chế từ nước lấy từ trong bụng con vịt quay pha với một chút dấm, tỏi, đường và bột báng. Khi ăn, trộn đều bát phở, thêm chút mác mật ngâm măng ớt. Phở ăn có vị ngậy của mỡ vịt, vị chua cay man mác của măng ớt, bùi của lạc và khoai tầu, thơm của mác mật. 

 

viet dong a travel

Viết phản hồi

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: